MAIN MENU
VỀ ÂN SƯ & BẠN BÈ
- Các ân sư trong những hộc ký ức
- Cảm nghĩ về các ân sư
- Cố Hồng thần tượng
- Nhớ Cố Hồng
- Gặp gỡ các Ân Sư MEP
- Lettre de mon jardin
- Bữa cơm Yêu Thương & Tri Ân
- Cha Alexis Nguyễn Thạch Ngọc
- Sư phụ âm nhạc
- Kể tiếp chuyện cha Láng
- Vị Thầy giám thị khả kính
- Đời Sao Biển - năm I
- Pourquoi ai-je quitté mon sacerdoce?
- Đường tôi đến Sao Biển
- Tôi làm chú nhỏ
- Anh ấy, bạn tôi
- Tình đầu chưa nguôi
- Hắn và tôi
- Cái va-li
- Tình ngay ý gian
- Những mẫu chuyện không quên
- Thằng Lẩu dự hội Bàn Ðào
- Hai khoảnh khắc không biết nói
- Một thời chú Tiểu
- Cu Đen
- Dại dột
- Thành Dzảnh
- Nhớ Phú Già
- “Le Nhaque”
- Hội ngộ Dana Point
- Kiếp “mặt sắt” ở xứ người
- Chỉ là giấc mơ
- Một thoáng bâng khuâng
- Sao Biển hỉ nộ ái ố
- Một kỷ niệm không đẹp
- Tổ trác thằng từ Đinh
- Chuyến đi xa đầu đời
- Những mảnh đời
- Một cõi quay về
- Những chuyện tình ở SB
- Cái “nong mạch”
- Kỷ niệm “anhphiếcmiê”
- Dấu kỷ niệm khó quên
- Một chút gì để nhớ
- Bệnh truyền nhiễm
- Một chuyến Mẽo du
- Đi thi
- CSB Biên Hoà tiễn cá
- Tâm tình sau hội ngộ
- Ét Bê Sờ Tai (SB style)
- Nicknames yêu dấu
- Mùa Chay nhớ bạn cũ
- Tản mạn về quá khứ vùng trời Sao Biển
- Cọp 72
- Một thời để nhớ
- Ký sự chuyến dự lễ mở tay
- Thư từ Nam bán cầu
- Nhớ mãi không quên
- Tản mạn về SB của tôi
- Trộm thuốc và hái dừa non
- Nhớ
- Ét Bê 72 phiêu lưu ký
- Dạo núi
- Thế mới là dân SB chứ!
- Sao Biển 66 hải ngoại
- Vĩnh biệt “thánh” Thành
- SB 67: số liệu và sự kiện
- Người đương thời
- Đi dạo
- Bắt trộm
- SB săn bắt trộm
- Thả trộm
- Kẹo và chú Sao Biển
- "Mình nhớ anh em quá!"
- Một chuyến đi
- Hoàng hôn trên biển
- Giáp mặt
- Giai điệu tri âm
- Miếng cơm cháy
- Những anh hùng sân banh SB
Các ân sư trong những hộc ký ức
Nguyễn Đức Khang 63


1. Cái tang chung đầu tiên
Trang web của cha Vinh kể về cái tang chung đầu tiên của Địa phận như sau:
Năm 1966, địa phận mang một tang lớn là Đức cha Marcel Piquet, MEP, qua đời. Giáo phận trống toà khoảng một năm. Sau đó Cha Phanxicô Xavier Nguyễn Văn Thuận thuộc địa phận Huế, được tấn phong Giám mục Việt Nam tiên khởi của địa phận Nha Trang (1967).
Cho đến năm 1966, chúng tôi không hề có dịp vào toà giám, nên cũng chưa biết mặt Đức giám mục địa phận cho đến khi Ngài qua đời. Nhận phép Thêm Sức tại Tuy Hoà nên trước khi vào chủng viện, chúng tôi cũng không có dịp thấy mặt Đức cha Piquet.
Dường như chỉ có một lần nào đó, tôi không nhớ rõ là Đức khâm sứ Toà Thánh hay Đức cha đã có ghé thăm chủng viện và ngủ tại đó. Những dịp đặc biệt như thế, như thói quen của toàn chủng viện, chúng tôi được nghỉ học một buổi.
Ngài đã mất tại nhà thương Grall Sài Gòn và được đưa về an táng tại Nhà thờ Núi Nha Trang, vốn là địa sở của Ngài. Chủng viện, là "con ngươi" của Ngài, phải qua Nhà thờ chính toà hát lề cầu hồn và dự lễ an táng. Mỗi chú được một tấm hình của Ngài, trong toàn bộ áo sống Giám mục trước khi nhập quan.
Giờ đây, sau khi đã suốt đời dành trọn cho giáo phận Nha Trang, Ngài đang nằm bên con dốc nhỏ dẫn lên Nhà thờ chính tòa, nhìn xuống công trường Hoà Bình ở Ngã Sáu, Nhà dòng các sơ Thánh Phaolô cũ, và xa hơn nữa phía ngoài biển, là toà giám mục, chắc hẳn Ngài đang lo lắng và cầu bàu cho con cái của Ngài, những người chịu ơn Ngài.
Hôm nay ghi lại đầy vài hàng tưởng nhớ Ngài như một lời biết ơn. Cầu mong Chúa trả công bội hậu cho Ngài trên trời. Mà cũng cầu mong Ngài giúp lời cầu nguyện cho giáo phận nhà đang nhiều khốn khó.

2. Đá banh với Thầy Phong
Tôi nhớ những ngày học đầu tiên với Thầy Phong (bây giờ đã là Bề trên đại chủng viện Sao Biển) bởi vì một lý do dễ hiểu. Đối với tôi, cũng như đối với nhiều chú khác trong lớp. Thầy Phong lúc bấy giờ là thần tượng. Ngài giỏi nhiều môn: dạy học cũng hay, đánh đàn, đá banh, hình như cái gì ngài cũng biết. Nhưng tài nhất là tài kể chuyện. Chỉ cần mười phút cuối giờ dành để kể chuyện, ngài đã làm chúng tôi say mê rồi. Mà lại là những chuyện du đãng, đánh nhau, hay trinh thám. Sau này nhớ lại chúng tôi biết đó là những chuyện phịa ra tức thời. Nhưng trí óc non nớt của chúng tôi lúc bấy giờ vẫn say sưa theo dõi như là có thật đã từng xảy ra như thế.
Ngày nay, khi có dịp phải chở hai cháu nhỏ đi đâu, chúng luôn luôn bắt bố kể chuyện. Và trăm lần như một, tôi nhớ ngay đến Alma Mater thời còn học huitième.
Còn đá banh thì khỏi nói. Thời đó, đội banh TCV Sao Biển đã làm nên lịch sử.
Trước hết phải nói đến các sân đá bóng.
Tuy chủng viện có sân đá bóng, nhưng không dùng được vì gai ơi là gai. Toàn là gai yết hầu. Loại cây gai này, bò lan trên mặt đất, chịu hạn rất cao. Một gốc có thể bò lan toả lớn chiếm một diện tích rộng bằng cái mâm cơm, có khi lớn bằng cả cái mặt bàn. Chỉ cần sau một cơn mưa ngắn, cây bò dài thêm được cả đốt ngón tay. Và lập tức ra hoa. Hoa có dáng như hoa mai vàng nhỏ, nở được hai ba hôm là kết trái. Trái thuộc loại trái kép có nhiều múi ghép lại thành hình khối lục bát. Mỗi đỉnh là một... cái gai. Mỗi múi với bốn cái gai nhọn như bốn cái sừng, là một trái. Mà một quả có tám trái như thế. Gai không dài, chỉ chừng hai ly thôi. Nhưng gốc to đủ để đâm qua da bàn chân, nhức lắm. Sau một hai mùa nở rộ, mặt sân đá bóng dày đặc những gai. Mỗi bước chân dẫm phải dính ít là ba bốn cái gai. Chúng tôi phải dùng dép để đá banh. Sau này nhiều lần cha Sách ra sáng kiến. Các chú đi dép, xếp hàng ngang, sát vai nhau, đi lên đi xuống vài bước, để gai dính vào dép rồi ngồi lặt ra. Cũng chỉ là công dã tràng. Một vài anh chân cẳng lạ thường. Như Thúy Lucas lớp tôi. Chân trần, mà bác ấy chạy như không có gai vậy. Sau này, khi phong trào đá banh bộc phát, các chú được mang giày bata vào thì dần dần sân đá banh mới bớt gai.
Sân đá banh thứ hai là sân Thanh Hải. Từ chủng viện đi ra đường quốc lộ Một, tới ngã ba, xéo về phía trên một, hai nhà có một cây bông gòn to, bên lề đường. Đối diện với cây bông gòn này, về phía bên kia quốc lộ, có một con đường nhỏ dẫn vào tận chân Núi Sạn. Ngay góc đường, là một bãi cỏ tốt, đủ rộng để làm sân đá bóng. Tại sân này đã xảy ra nhiều trận so tài giữa chủng viện và các đội banh nổi tiếng lúc bấy giờ như đội banh Hà Ra, đội banh Sinh Trung. Cả hai đôi đều đá thua chủng viện. Những đôi chân vàng lúc bấy giờ của chủng viện có Thầy Phong, chú Tiên, chú Kinh, chú Luận... Chỉ có chú Tiên là cao, hai chú Kinh và Luận đều lùn. Sau khi thua một hai trận, các đội bóng trên đều quyết ăn thua đủ. Riêng đội bóng Sinh Trung lúc bấy giờ cho người vào Sài Gòn cầu viện một thủ môn nổi tiếng ra Nha Trang để lấy lại danh dự. Trong trận đó, với một cú phạt góc nổi tiếng của Thầy Phong, chủng viện lại thắng. Từ góc phạt, quả banh bay vòng cung lọt lưới trước sự ngẩn ngơ của mọi người và của cả thủ môn! Trong một trận khác, với cú sút thần tốc của Thầy Phong, thủ môn bay đón quả banh, trán đụng vào cột dọc khung thành, tét trán, nhưng vẫn chậm hơn quả banh.
Sân đá banh thứ ba là sân Thánh Kinh Thần Học Viện. Đó là bãi cỏ rất đẹp nằm trong khu nhà thương Tin Lành, bên trong Hòn Chồng, sau cái giếng có tháp bơm nước bằng chong chóng gió. Nơi đây cũng đã xảy ra một vài trận banh với chuẩn y viện Lasan. Các frères Lasan tuy giỏi về bóng rỗ, nhưng đá banh thì thua chủng viện xa.

3. Thầy Thế, Thầy Cầu
Tôi chẳng còn nhớ gì về những buổi học với Thầy Nguyễn Minh Thế. Mang máng rằng thầy dạy việt văn và toán. Việt văn lúc bấy giờ còn học theo chương trình lớp nhất: tả cảnh tả người. Còn môn toán cũng thế: tiền lời, tiền lỗ, động tử, thời gian, toán giả sử kiểu "vừa gà vừa chó ba mươi sáu con. Bó lại cho tròn đếm đủ trăm chân. Hỏi bao nhiêu gà, bao nhiêu chó?" Thầy Thế gốc xứ Tân Bình, sau năm lớp Tám, tôi chẳng còn dịp gặp lại.
Thầy Nguyễn Cao Cầu, người cao ráo, dạy văn phạm tiếng Pháp. Có ngón nhéo tai các chú đau đến điếng người. Vừa nhéo tai người khác mà răng mình thì nghiến theo, nên tội nhân, dù đã kiễng chân, ràn rụa nước mắt, mà vẫn còn thấy đau thêm. Ngài hay thân mật xưng hô "tao, mày" với các chú. Sau khi thầy rời chủng viện, tôi cũng chắng có dịp gặp lại, cho mãi tới quãng năm 82 hay 83 gì đó, nhân có dịp vào Phan Thiết cùng với Cha Nguyễn Bình An, ngang xứ Tầm Hưng, hai anh em rủ nhau vào thăm Cha Nguyễn Văn Chữ đang là chánh xứ Tầm Hưng, có ghé nhà Thầy Nguyễn Cao Cầu, gặp lại thầy đang ở với Bà Cố. Thời ấy, thầy đang nổi tiếng khắp vùng với tài phóng xe gắn máy... cao tốc. Thầy kể đang thời khó khăn, phải thường xuyên đi Sài Gòn cất hàng vải vóc quần áo cho chị. Sau đó nghe tin thầy qua đời vì bệnh.

4. Cố Vị (Jeanningros)
Dáng người thấp, mập, khuôn mặt hiền từ, tướng đi bệ vệ, trán sói, râu quai nón hơi trắng, và bụng phệ. Đó là hình ảnh tôi còn nhớ được về Cha Bề trên tiểu chủng viện, niên khóa 1963-1964, Cố Jeanningros. Tên Việt nam là Cố Vị. Các chú Lớn cứ gọi ngài với cái tên vui vui vừa phiên âm vừa dịch chữ là Cố "Răng Nanh To".
Phòng ngài nằm sát bên cầu thang dẫn lên phòng ngủ chú Trung, Bất kỳ đi đâu, dù đi trong hàng hay đi riêng lẻ, mỗi khi đi ngang phòng ngài, bọn con nít chúng tôi cảm thấy có chút e dè sợ sệt. Không hiểu bởi vì ngài là Cha bề trên có toàn quyền hay vì ngài là cố Tây mà chúng tôi sợ như thế. Dường như cả năm học, tôi chẳng có dịp nói chuyện với ngài. Có nói được tiếng Pháp đâu mà nói chuyện với ngài. Mà cũng chẳng có dịp nào để vào phòng ngài hay gặp ngài. Thằng bé chỉ "đứng xa xa bằng ném một hòn đá" mà nhìn thôi.
Như vậy tôi không có một kỷ niệm riêng về Cha bề trên năm huitième. Chỉ có một hình ảnh mang vẻ phúc hậu của ngài còn đọng lại trong tâm tư. Nhất là giọng sang sảng khi ngài xướng điểm hàng tháng.
Trước cửa sau phòng ngài, nơi góc nhà vệ sinh, ngài có một vườn hoa nhỏ, trong đó tôi nhớ có một cây nho. Đây là nơi đầu tiên trong đời tôi thấy tận mắt một cây nho. Trước đó, tôi chỉ thấy cây nho sau... lưng áo lễ của Cha xứ, hay trên màn Nhà Tạm. Từ nhỏ chí lớn tôi chỉ thấy trong hình vẽ một chùm trái nho, trái nào trái nấy to bằng ngón chân cái, thường màu tím hay đỏ, với vài cái lá, nom giống như lá đu đủ nhỏ, thêm vài cái râu xoắn xoắn. Bây giờ lại thấy nguyên cả một cây leo thành một giàn nho, mà là nho trắng. Sau này thấy trong hình người Pháp trồng nho thành từng hàng từng luống. Cây nào cũng không cao quá đầu người. Chắc để cho tiện việc hái trái và nhất là vì tỉa hàng năm, nên cây chỉ có dăm ba nhánh ngắn mỗi năm, cho những chùm nho to tướng. Có điều suốt năm tôi chẳng hề thấy trái ở cây nho này. Mãi sau này (quãng năm 1978) tôi được hân hạnh ăn trái cây này một lần khi học tín lý cùng với Cha Nho. Chua ơi là chua. Hai cha con vừa ăn vừa nhớ Cố Vị, lúc bấy giờ đang ở Nouvelle Calédonie (?).

5. Cố Lành (Michel Gervier)
Cố Tây ảnh hưởng nhiều nhất đến đời sống của tôi là cố Lành, Michel Gervier. Như tôi đã kể lại trước đây, trước khi chính thức nhập chủng viện, tôi đã biết ngài. Cùng với các đàn anh như An, Thức, Ngạn, Thành, Hiệu, Châu (gấu), tôi và Khải, khi đang mùa hè, chúng tôi đã vào chủng viện chơi hầu như mỗi ngày. Chơi ping pong chán rồi thì vào phòng Cố Lành, xem truyện tranh "Tintin et Milou". Thỉnh thoảng còn được ngài cho ăn "chó có lác". Quả thực kẹo Tây ngon thiệt.
Tương tự như phòng Cha bề trên, phòng Cố Lành, Père Econome, nằm dưới chân cầu thang dẫn lên phòng ngủ chú Nhỏ. Phòng Cố Lành có nhiều đặc điểm:
1- Lúc nào cũng bề bộn. Không hề bao giờ thấy ngăn nắp. Dường như chỉ có mình ngài đi vào phòng là không vấp thôi. Chỗ nào cũng thấy lung tung những đồ mua về để bán lại cho các chú.
2- Lúc nào cũng nồng nặc mùi thuốc lá Bastos xanh. Ngài hút thuốc liên tục và suốt ngày, hết điếu này mồi sang điếu khác. Đôi khi hút gần đến môi rồi mà ngài vẫn không bị phỏng và nấn ná chưa mồi điếu mới vì dường như còn tiếc. Chẳng có chiếc áo chùng thâm nào của ngài mà không đầy những lỗ cháy do tàn thuốc rớt xuống. Chỉ cần ngài đi qua nơi nào, thì năm ba phút sau vẫn còn mùi thuốc lá quyện trong không khí. Trong túi lúc nào cũng leng keng chùm chìa khoá to tướng. Cho nên chẳng bao giờ ngài bắt được chúng tôi quả tang phạm luật.
3- Phòng ngài lúc nào cũng hôi mùi chó và đầy lông chó. Ngài thích nuôi chó và cũng rất cưng chó. Ngài đi đâu chúng cũng đi theo. Tôi nhớ nhất năm tôi troisième con chó ngài nuôi là con chó loại berger. To và đáng sợ. Lúc ấy phòng ngài ở đã chuyển sang phòng ngoài cùng, sát biển, dãy nhà chú Lớn. Chỉ cần cầm môt trái dừa xiêm tung lên, là nó phóng theo, nhảy lên, ngoạm lấy cứng ngắc trước khi trái dừa kịp rơi xuống đất.
4- Trên bàn ngài làm việc, ngoài sổ sách quản lý, luôn luôn có một cuốn sách toán mở sẵn. Lúc nào ngài cũng bận rộn giải một bài toán nào đó. Nhờ được ngài dạy toán mà vốn kiến thức về toán của chúng tôi rất căn bản. Sau này, các năm từ second đến terminal chúng tôi không có giáo sư toán nào ra hồn. Nhưng nhờ cách lý luận học được từ Cố Gervier ở bậc trung học đệ nhất cấp mà chúng tôi theo học vững vàng Serie D. Tôi còn nhớ như in cách giải toán géométrie: lúc nào cũng có phần théorème, rồi phần conclusion. Kế bên là phần démonstration và câu quen thuộc ở cuối bài "c.q.f.d", có nghĩa là "Ce qu'il fallait démontrer". Vẽ hình, dù là vẽ perpendiculaire, hay médiatrice, hay bissectrice hoặc các polygone, chỉ luôn luôn dùng thước kẻ và compas. Không bao giờ dùng thước rapporteur.
Một vài kỷ niệm đẹp tôi còn nhớ được về ngài là: ngài dạy chúng tôi tiếng Pháp năm septième và toán. Và con số 5 (năm) của ngài viết rất đặc biệt. Cái đuôi dài xuống, ngoằn ngoèo, rất giống chữ g Việt nam. Cố Lành vậy chứ cũng "thiên vị" lắm. Chúng tôi hay chọc Thường (Nò) là con Cố Lành mà. Và một lần tôi được Cố Lành "bênh" trong một bài thi toán năm troisième. Bài thi kỳ ấy có một câu về phương trình mà tôi còn nhớ cả lớp chỉ có bác Nguyễn Văn Hoà làm xong và đúng mà thôi. Vậy mà ngài cũng cho tôi điểm cao. Kỷ niệm khác cũng vào năm troisième, Nguyễn Trung Cả làm trưởng lớp. Dịp lễ Thánh Micae, cả lớp rủ nhau đi mừng lễ Cố Lành. Bác Cả bảo tôi viết mấy câu chúc. Sau khi bác Cả đọc xong thì không biết vì xúc động hay vì lý do gì, Cố hỏi bác Cả ai là tác giả bài văn. Bác Cả trả lời "C'est le chú Kang".
"L'eau coule!"
Thường mỗi buổi chiều, sau giờ chơi chính, Cố Lành bơm nước lên hồ, để các chú có nước dùng rửa mặt ban sáng. Chủng viện có bốn cái giếng lấy nước uống, có nắp che cẩn thận, một cái ở vườn trước nhà, bên đường rẽ vào phòng Cha Bề Trên. Một cái nằm bên phòng học chính chú Lớn. Một cái bên hàng dừa, gần tháp chuông, dưới phòng Cha Lagrange. Máy bơm chính đặt bên giếng này, bơm cho hai cái hồ trên nhà vệ sinh chú Nhỏ và chú Trung. Hầu như lần nào Cố Lành cũng quên tắt máy đúng lúc. Khi nước chảy tràn dữ dội, và chúng tôi thích thú xì xào từ trong phòng etude: "L'eau coule!", Cố Lành mới chạy vội ra tắt máy.
Tôi mượn hình ảnh này để nói lên những lời tri ân đến Cha giáo ngoại quốc đầu tiên trong đời của tôi: Cha Michel Gervier, thuộc dòng MEP, các cha Thừa Sai Paris.
Tháng trước, lang thang trên web tìm vào site của các cha MEP, tôi đã bồi hồi nhìn bình đồ ghi lại cấu trúc tổ chức của các Vị Ân Nhân của Giáo hội Việt Nam. Bao nhiêu thế hệ các nhà truyền giáo đã từ đây ra đi, đến một miền đất xa lạ, chậm tiến là Viễn Đông. Ớ đó, các ngài đã dành trọn đời mình để rao giảng Tin Mừng, để phục vụ và nhiều khi đổ máu mình trên mảnh đất nghèo khó ấy. Các ngài đã cho hết những gì mình có, cho tràn trề, đến nỗi trào cả ra ngoài. "L'eau coule!"
Tôi nghĩ đến chàng thanh niên Gervier, thời đang thanh xuân, cùng nhiều bạn khác, bỏ lại sau lưng kinh đô ánh sáng Paris và cái tương lai có thể huy hoàng của mình, mang nhựa sống tràn trề của mình tiêu dùng vào việc giáo dục đám thiếu niên Việt Nam quê mùa là chúng tôi. Phải có hồn Tông Đồ mãnh liệt, thì các ngài mới quả cảm như thế. Phải có đức tin mạnh mẽ, thì mới say mê truyền giáo như thế. Phải có lòng yêu Giáo hội thiết tha, thì mới từng ngày nhận mảnh đất Việt xa lạ làm quê hương. Cùng với nhiều thế hệ các nhà truyền giáo theo chân Thánh Phanxicô Xaviê, các ngài đã đến đây và chọn nơi này để sống và để chết. Đại ân nhân như thế mà chúng tôi chẳng biết gì nhiều về cá nhân cũng như gia đình ngài. Chỉ biết có mỗi cái tên và tên thánh, Michel, Gervier. Kiến thức của chúng tôi về ngài ngắn ngủi như lòng biết ơn của chúng tôi.
Ngài làm quản lý, lo từng cái ăn cái uống và mọi thứ cần thiết cho sinh hoạt của chủng viện trên 200 người. Thiếu ngài một ngày thôi là chủng viện sẽ tê liệt. Vậy mà chúng tôi không "thấy" đưọc điều ấy. Chỉ biết thỉnh thoảng chọc ngài để cười vui. Ngài chỉ thường nói vài câu thông thường, đủ cho giao dịch hằng ngày: "Chú Kang, giúp đỡ chút chút!", "Nói lại, nói lại đi!", "Có hiểu kồng?" Tiếng Việt của ngài hạn chế như thế đấy, nhưng nỗi lòng thương yêu và hy sinh cho Giáo Hội VN thì tràn trề: "L'eau coule!" Điều này, nay tôi mới ngộ ra, chứ hồi ấy, 1963-1969, tôi vô tâm chỉ thấy đó là điều đương nhiên mình được hưởng.
Ngày nào cũng ba bữa cơm, ngày nào cũng đi chợ. Chiếc xe Peugeot bác Hiển lái chở các dì đi chợ Nha Trang mỗi ngày. Đến gần trưa thì về. Ngày nào chúng tôi cũng thấy xe ra xe vào. Nhưng việc bếp núc, nấu nướng, lo lắng lam lũ hằng ngày thì chúng tôi không thấy. Ban trưa, bụng đói, vào nhà cơm đã thấy cơm canh dọn sẵn, ít có ai trong chúng tôi cảm ra được cái "ơn" mình đang mang nợ.
Đã bận bịu việc quản lý, ngài còn đảm trách việc dạy toán cho nhiều thế hệ chủng sinh. Từ những bài vỡ lòng về algèbre và géométrie. Chúng tôi không thể nào quên được các monome, polynome, rồi identités remarquables, équation du premier degré, du second degré. Nhất là các identités remarquables, ngài bắt thuộc lòng và nhất là nhìn cho ra được dạng của nó trong những polynomes. Sau năm 75, thời khốn khó phải làm nghề godautre, bọn con nít Ba Làng cũng hưởng lây được cái tinh tế toán học ấy khi thấy được cấu trúc của các identité remarquables. Nhất là cách lý luận dùng trong géométrie. Les trois cas d'égalité des triangles. Có bạn nào còn nhớ không? Nó thấm nhiễm vào người đến độ sau này, khi học logica minor, các thèse, hypothèse, synthèse trở nên quen thuộc dễ hiểu hơn.
Ngài luôn luôn ở căn phòng ngay dưới cầu thang, dù là cầu thang chú Nhỏ hay hai đầu dãy nhà chú Lớn. Cái giường ngủ luôn luôn được kê trong phần không gian nhỏ hẹp dưới các bậc thang. Tôi nhớ tới chuyện thánh Alexus, hiền lành, khiêm tốn. "Ở lặng chân thang, mười bảy đông tràng". Cố Gervier của chúng tôi có khác gì thánh Alêxù trong truyền thuyết đâu? Vậy mà sao chúng tôi lúc ấy không nhận ra. Mãi cho đến nay. Có quá trễ không?
Cha Thường và Trần Siêu Việt thân cận với Ngài nhiều hơn chúng tôi. Ngài đã từng ớ xứ Bình Chính trước kia, thời còn coi Kho Lẫm của địa phận tại Phan Rang. Có lẽ phải yêu cầu hai vị này viết thêm về ngài.
So với các cố khác, Cố Gervier là người bình dân nhất. Chú nào cũng có thể vào phòng ngài để xem truyện tranh, Tintin et Milou, và sau này là bộ Asterix. Suốt thời chủng viện tôi nhớ đã đọc đi đọc lại hai bộ này mấy lần. Ngài phải gửi mua đến hai lần sau khi các chú đã tranh nhau chuyền tay đến rách bươm. Ngài nóng tính, nhưng chẳng ai giận ngài, bởi chúng tôi cảm được tình thương ngài dành cho các chú. Ngài thích nuôi chó. Sau này khi lớn lên và chứng kiến tận mắt tình cảm của người Âu Mỹ dành cho thú vật nuôi trong nhà, thì tôi hiểu được. Giá mà đấng nào cũng có một thú vật nuôi trong nhà thì biết đâu sẽ đỡ bị những phiền toái về tình cảm sau này.
Ngài không sang Việt Nam để dạy đại học, để làm giáo sư đại chủng viện, hay để làm một công việc gì lớn lao. Rất có thể ngài chỉ mới có bằng bac, hay chỉ là bằng BEPC, cũng chưa biết chừng. Nhưng bây giờ chúng tôi thấy rõ ngài chỉ là một linh mục hăng say truyền giáo, thế thôi. Ngài chỉ "giúp đỡ chút chút", âm thầm từng giờ, từng ngày "giúp đỡ chút chút" cho đến khi bao nhiêu hồ của chúng tôi tràn cả ra ngoài, "l'eau coule".

6. Cố Quang (Lagrange)
Sau Cố Lành, chúng tôi được học nhiều với Cố Quang (Louis Lagrange) hơn các cố khác. Ngài cao ráo, dáng người thon thả, luôn luôn mặc áo dòng kiểu Xuân Bích. Dáng đi chậm rãi, và chững chạc. Thỉnh thoảng ngài dùng tay chậm rãi vuốt một ít tóc còn lại trên cái đầu sói, dường như để kiểm tra xem có mất thêm sợi nào không? Một mắt của ngài hơi mại mại. Nhiều lần anh bên cạnh bị khảo bài oan. v Ngoài việc dạy trong chủng viện, ngài còn là tuyên úy Dòng kín. Mỗi sáng ngài đi bộ sang bên Dòng kín để làm lễ cho các sơ. Ngài có một chiếc xe Mobylette. Bao nhiêu năm chúng tôi không thấy xe bị hư bao giờ, có lẽ cũng chỉ vì ít khi ngài đi đâu. Ngài rất tự hào với nét chữ của ngài. Ngài viết chữ rất cẩn thận, chậm rãi, và đẹp. Sau khi vào chủng viện nhiều năm, đa số chúng tôi đã không còn dùng cả viết máy Pilot, mà chỉ dùng viết bic, nguyên tử. Vậy mà ngài vẫn tiếp tục dùng ngòi viết lá tre chấm mực tím. Ngài thường nhắc chúng tôi phải viết chữ cho đẹp và cẩn thận. Và lấy gương của chính ngài để làm thí dụ. Thế chiến thứ hai, ngài bị kêu đi nhập ngũ. Nhờ nét chữ đẹp ngài đã ghi trong tờ khai lý lịch mà ngài được chọn vào làm lính văn phòng, thay vì bị điều ra mặt trận. Nhờ vậy mà ngài an toàn sống qua cuộc chíến. Bao nhiều lần kể xong kinh nghiệm ấy, ngài luôn luôn kết luận: "On ne sais jamais!"
Ngài dạy chúng tôi tiếng Anh liên tục mấy năm. Trong chủng viện hình như chỉ có ngài biết kha khá tiếng Anh. Vì thế phần tiếng Anh trong chủng viện chỉ có mình ngài đảm trách dạy cho mọi lớp. Mà tôi còn nhớ như in, sách tiếng Anh dạy trong chủng viện là bộ Anglais Vivant, edition Bleu. Chúng tôi học từ cuốn sixième cho đến troisième. Tuy dạy tiếng Anh, nhưng cũng như các cố Tây khác, ngài không thích người Anh, và nhất là càng không thích người Mỹ. Có lẽ vì lây nhiễm tính ấy, nên sau mấy năm chủng viện, tôi chẳng nói được câu tiếng Anh nào cho ra hồn và suôn sẻ, đúng giọng.
Điều mà chúng tôi nhớ nhất, và có lẽ nhớ suốt đời, đó là khi nhấn mạnh possessive case, ngài lấy ví dụ "Ninh's book". Từ đó chết cái tên "Ninh búc" của Trần Bá Ninh lớp chúng tôi.
Trăm ngày như một, bắt đầu giờ lớp, cây viết chì trên tay cố Lagrange di chuyển chậm chạp cách ba bốn phân trên danh sách các tên, rồi bất chợt rơi xuống. Đầu viết chì chỉ vào tên ai, anh ấy phải bị khảo bài. Gọi là cho có may rủi và công bình, chứ thực ra, Cố đã định hôm ấy phải khảo bài ai rồi. Chúng tôi biết thế, Cố cũng biết thế, nhưng ai cũng lấy làm vui và hồi hộp khi chờ đợi cái nghi thức đầu giờ dễ thương ấy.
Cố Lagrange của chúng tôi đơn sơ như thế. Nếu phòng Cố Gervier bề bộn trăm thứ bao nhiêu, thì phòng cố Lagrange lại đơn giản và ngăn nắp bấy nhiêu. Hầu như cố chỉ sống với cái tối thiểu. Trên bàn, có một cái miếng lót tay, sous-main, vuông to, chiếm gần hết diện tích cả bàn, hình như bằng da thiệt, trong đó luôn có một tờ lịch của tháng. Một cái bình đựng bút, và một lọ mực... tím. Trong bình đựng bút, ngoài cây viết máy Parker, mà ngài rất ít khi dùng, luôn luôn có một quản viết bằng gỗ, và một ngòi viết bầu, như thường thấy trong các lớp tiểu học thời ấy. Nhiều lần tôi đã thấy Cố Quang dùng cây viết này chấm mực nắn nót viết thư gửi về Pháp. Nét chữ của ngài rất cẩn thận, nghiêng đều đặn, nét đậm nét lạt và hoa mỹ, như những bản Hiến Pháp mà chúng tôi thường thấy hình minh họa trong sách histoire. Chúng tôi chẳng hề biết thân nhân của cố là những ai mà ngài thường xuyên nắn nót từng nét chữ viết thư. Càng tệ hơn nữa, lúc ấy chúng tôi chẳng ai chịu khó tò mò mà hỏi, để bây giờ mang nặng mối u hoài vì đã bạc với Ân Nhân.
Toàn bộ vốn liếng Anh văn của chúng tôi đều do ngài mà có. Nói cho ngay, bộ Anglais Vivant từ sixième cho đến troisième học trong chủng viện chỉ giúp tôi được cái vốn ngữ vựng văn chương, chứ, khi có dịp nói tiếng Anh với mấy ông lính Mỹ thời ấy, không những chả ai hiểu tôi nói gì mà cũng chẳng ai hiểu tôi muốn nói cái gì. Dầu vậy khi đọc sách báo, chúng tôi không ngại ngùng chút nào. Tuy rằng dần dà sự hiện diện của lính Mỹ càng ngày càng đông và càng ảnh hưởng đến đời sống của chúng tôi, cố không thích người Mỹ. Chúng tôi cũng bị ảnh hưởng mà không thích theo.
Đơn giản trong lối sống, ngài cũng đơn giản trong lối suy nghĩ. Nghĩa là ngài đơn sơ. Ai nói gi thì ngài nghe biết vậy. Hiền lành và tốt bụng nên năm nào ngài cũng có nhiều con thiêng liêng. Hàng người xưng tội mỗi tuần trước phòng ngài luôn luôn dài hơn các hàng khác. Hồi mới vào, ngại xưng tội với các cha Việt, tôi nghe các anh lớn kháo nhau rằng, xưng tội với ngài thì dễ. Ngài cho việc đền tội ít. Mà có nói nhanh một chút thì ngài cũng không hiểu kịp. Việc đền tội thì lần nào cũng như lần nấy, chỉ ba kinh Lạy Cha, Kính mừng và Sáng danh.
Nay ngài đã thuộc về Chúa, Đấng ngài đã vì yêu thương mà suốt đời dấn thân phục vụ Giáo hội Việt Nam. Phục vu một cách đơn sơ. Xin Chúa trả công bội hậu.
Hiện tại các cha MEP vẫn còn tích cực giúp cách rất cụ thể cho Giáo hội Việt Nam. Mỗi năm, một Cha Việt sang Pháp trọ học, tốn cho các ngài gần tiền triệu đô la. Cả học phí lẫn tiền cơm nước. Mà địa phận nhà đã gửi qua bao nhiêu vị. Chúng ta chịu ơn các ngài biết bao.
Cher Père Lagrange, nous vous remercions beaucoup.

7. Cố Hồng (Clause)
Tên Tây của Cố Hồng là Clause. Ngài là vị giám đốc đầu tiên của TCV Sao Biển. Ngài lùn, tròn, miệng lúc nào cũng ngậm ống pipe. Ngài từ chủng viện Làng Sông Quy Nhơn chuyển vào. Và rất giỏi. Ngài soạn sách Nguyện ngắm và xét mình cho Chủng Viện sử dụng. Ngài còn giúp toà giám mục soạn lịch phụng vụ và thư chung hằng năm cho giáo phận Nha Trang.
Giống cố Lành ở việc hút thuốc liên tục, nhưng khác ở chỗ ngài chỉ hút pipe. Chúng tôi không được hân hạnh học với ngài. Nghe nói ngài dạy toán các lớp lớn.
Và lúc bấy giờ ngài đang mắc tiểu đường.
Năm sau ngài đổi về giáo xứ Bình Cang, vừa làm cha xứ vừa làm tuyên úy cho dòng Bình Cang.
Ngài mất và được an táng tại đây năm 1970.

8. Cố Pouclet và đàn Harmonium
Không biết tôi nhớ có đúng không, hình như cố Pouclet chỉ ở Sao Biển có ba bốn năm. Sau đó ngài qua địa phận Kontum và lên Đà lạt ở biệt thự Sohier. Dường như trước đó ngài ra Providence Huế, theo các chú Lớn lớp seconde, premier, và terminale, trước biến cố Mậu Thân đã được Đức cha Thuận (GM năm 1967) gửi học ngoài đó.
Ngài có nhiều điểm độc đáo:
1. Dáng ngươì thấp lùn và bụng thật to. Tôi nghe các chú Lớn kể rằng sở dĩ bụng ngài to là vì bị VM bắt và tra tấn đổ nước vào bụng (!??). Ngài có bàn tay nhỏ. Các ngón tay cũng nhỏ và tròn. Cái đàn harmonium trong phòng riêng của ngài cũng nhỏ. Năm 1963 ngài ở phòng đầu ngoài cùng của dãy nhà chú Lớn, sau này cố Lành ở phòng này. Trên lầu là phòng của cố Hirigoyen.
2- Ngài thích chơi tem. Và chính ngài truyền cho các chú trong chủng viện cái thú chơi tem. Bao nhiêu tem của các chú có đều là do ngài cho. Ngài có rất nhiều tem. Và mỗi loại tem ngài cũng có rất nhiều con. Dường như nhiều cố khác trong hội MEP cũng chơi tem như ngài nên các ngài trao đổi cho nhau. Tôi còn nhớ ngoài những con tem Pháp hiện hành, ngài có nhiều tem từ đảo Madagascar, quần đảo Reunions thuộc Pháp, các nước Phi châu thuộc Pháp như Congo Brazaville, Côte d'Ivoire, Nigeria, Cameroun, Tunisie... Và cả những con tem Việt Nam thời Pháp thuộc như con tem Nam Phương Hoàng hậu. Như nhiều bạn khác, tôi cũng có môt cuốn sưu tập tem, mà tôi đánh mất ngay khi lên Chuá Chiên Lành.
3- Cố Pouclet chuyên dạy Pháp văn. Mãi sau này lên năm première chúng tôi mới có hân hạnh học với cố môn Francais. Quả đúng như bác Tiên 65 đã nói, Cours của cố Pouclet chắc chắn đã soạn cách đấy hơn 40 năm. Nhưng tôi nghĩ nó không vì thế mà lạc hậu. Những bài luận văn bình giảng về bài Thằng Bờm chẳng hạn thì, nếu hay, hai mươi năm hay năm mươi năm sau nó vẫn còn hay - nếu có ngư?i chịu khó tìm đọc. Có điều, học với ngài thì buồn ngủ và chán vô cùng. Ngài đốt hết điếu thuốc này sang điếu thuốc khác, và thao thao giảng bài. Các chú Kontum thì siêng năng nghe ngài giảng bài hơn các chú Nha Trang, chỉ vì lúc ấy ngài đang ở bên biệt thự Sohier cùng với các chú Kontum. Với lại năm première, chúng tôi không phải thi. Theo tôi đoán có lẽ chỉ mình bác Lưu Văn Lộc lớp tôi là chăm nghe ngài giảng nhất. Bởi vì năm sau, khi thi Bac, trong số hai ba đầu đề dissertation tuỳ chọn để bình giảng, bác Lộc nhà ta chọn ngay bài thơ đầy ấn tượng của Baudelaire, trong tuyển tập Les Fleurs du Mal. Chu cha ơi, các bạn biết không? Baudelaire là một trong những tác giả khó. Vậy mà bác Lộc nhà ta tán hươu tán vượn ra sao mà bài của bác được gần 13/ 14 điểm gì đó. Đó là bài luận văn cao điểm thứ nhì trong Session năm đó. Ngả mũ chào bác Lộc một cái.
Tôi có nhiều kỷ niệm với cái đàn của cố Pouclet. Năm lên septième, mỗi lớp được chọn hai người để học đàn harmonium. Tôi xin được vào trong số may mắn hai người học đánh đàn. Hình như với Vũ Như Cương. Không biết là may mắn hay xui xẻo. Tuổi đang lớn, thích chơi bóng rổ, mà mỗi tuần phải bỏ hai buổi chơi ban chiều chỉ để được mỗi lần học nửa tiếng. Cái đàn kê sát cửa ra vào. Giống như một cái thùng gỗ chữ nhật, có hai cái giây từ trên nối xuống hai cái bàn đạp. Hai cái giây này cũng đứt nhiều đoạn và cũng nối nhiều đoạn với nhau. Đàn thật cũ, nên hộp giữ hơi đã không còn kín. Phải đạp mới có hơi, mà đạp đến đâu thì hơi xì mất ra ngoài đến đó... Hộc hộc... hộc hộc... hộc hộc… Tiếng đàn phì phò nghe khó nhọc như anh lên cơn suyễn. Phải đạp lia lịa còn nhọc hơn là chạy bóng rổ. Mỗi buổi tập chỉ có nửa giờ dành cho cả việc tập bài mới, học bài mới và trả bài cũ. Cuốn tập đờn là cuốn của Raffy. Cũ và khó. Hai năm trời tôi chỉ học được có nửa cuốn. Mới bắt đầu học được đánh hai tay khác nhau thì... phải lên "đánh đờn nhà thờ". Chưa kịp học nhạc lý và hoà âm với ngài.
Nói thật chứ khi mới vào năm huitième, thấy chú Kinh đánh đờn nhà thờ, đệm đờn cho cả nhà thờ hát thì thằng bé căng mắt ra mà chiêm ngưỡng... Thỉnh thoảng có chú Châu thay thế. Năm ấy cha Mai Tính chưa đến lượt đánh đờn nhà thờ. Mà chuyện đệm đờn nhà thờ không phải là dễ. Tôi nhớ sau này có Sơn Souris. Mỗi lần đệm là mỗi lần trật. Chỉ đệm được suôn sẻ hai ba câu đầu tiên. Sau đó là run quá, nhìn không kịp vào bản nhạc. Cả nhà thờ hát xong câu cuối một hồi lâu, ai nấy đã ngồi xuống ghế, thì Sơn nhà ta mới lần ra được hoà âm kết thúc.
Khi đang tập đờn thì cố Pouclet chơi... tem. Vậy mà chỉ cần đánh sai một note hay nghỉ sai một nửa nhịp thôi, là ngài đã la lên: "C'est faux!"
Lên năm cinquième (1966- 1967), các lớp lớn được chuyển ra Huế học trường Thiên Hựu, không ai đánh đờn. Thế là mèo phải... ăn thế. Tôi cũng được vào trong danh sách đệm đờn nhà thờ. Vũ Như Cương có tâm hồn nghệ sĩ hơn tôi, ngón đờn có vẻ lã lướt hơn.
Năm ấy chủng viện cũng bắt đầu có cuốn Kinh Nhạc số một, do Dòng Phanxicô quay roneo, tổng hợp các bài hát quen thuộc. Mỗi chú ai cũng mua một cuốn. Ngoài cuốn Cung Thánh Tổng Hợp và cuốn Tuyển tập Ca Lên Đi của Cha Kim Long, thì cuốn Kinh Nhạc được chúng tôi sử dụng nhiều nhất.
Về sách hát tiếng Latinh, chúng tôi có ba cuốn: cuốn Besnier, mỏng bìa màu xanh, dùng để hát Chầu Thánh Thể. Cuốn Chant des Cantiques, bìa cứng bọc vải nâu, dày chừng một phân dùng hát lễ trọng và quanh năm, cũng như đầy đủ các bộ lễ. Và một cuốn thật dày, là cuốn Rituale, Thỉnh thoảng mới dùng. Cuốn này đầy đủ các lễ và các Thánh Vịnh cùng mọi Nghi Thức. Năm huitième chúng tôi còn dùng nhiều lần trong năm để hát Vêpres.

9. Cố Laroque
Truớc khi kể những kỷ niệm có được về cố Laroque, tôi phải nhắc lại cho các bạn và tất cả những ai đã từng là học trò của ngài câu này: "Coudes!"
Với cố Laroque thì mọi sự trên đời chẳng có gì quan trọng bằng môn Physique của cố!
Đầu năm 1963, dãy nhà chú Lớn mới xây xong nửa chừng, từ ngoài biển vào tới hàng thông ở giữa sân. Gần cuối năm 1963, dãy nhà ấy mới hoàn tất. Phòng ngủ trên lầu được nới dài. Dưới lầu thêm được mấy phòng học, mà một phòng sau này làm thư viện, ngay sau lưng phòng étude chú Lớn. Và phòng lab, sau này biến thành phòng bệnh infirmerie.
Phòng lab đúng ra là phòng học tạm một, hai năm của lớp seconde và terminale trước khi những lớp này được gửi ra Huế học trường Providence (Thiên Hựu). Dấu tích phòng lab chỉ còn một cái bàn to có lát gạch men sứ trắng, như thường thấy trong các nhà thương. Hai góc phòng, hai bên bảng, còn hai cái tủ to đựng đồ thí nghiệm chimie, như các ống nghiệm, lọ, chai, dĩa, tất cả đều là đồ tốt đúng tiêu chuẩn, mang mác Pyrex . Nhưng từ khi cha Laroque đi rồi thì không còn ai sử dụng. Sau này đến thời cố Nedelec trông coi nhà bệnh, hai cái tủ này chỉ để đựng thuốc súc miệng gargarisme!
Phòng lab ấy là giang sơn của cố Laroque. Chúng tôi năm ấy chỉ đứng xa xa mà nhìn. Phần vì là chú Nhỏ nên không được bén mảng sang khu chú Lớn. Phần vì cố Laroque cũng chẳng biết chúng tôi là ai. Nhưng với chúng tôi, người cao nhất chủng viện là cố Laroque (ngược lại là cố Pouclet). Ngươì hát dở nhất chủng viện: cố Laroque (ngược lại cũng là cố Pouclet).
Cái sự hát dở của của cố Laroque thì đã trở thành giai thoại. Hình như là năm tôi học septième. Lễ sáng Chúa Nhật Phục sinh. Suốt ngày Thứ Bảy Tuần Thánh cố Pouclet đã "gò" cho cố Laroque bao nhiêu lần, chỉ một câu xướng "Ite, Missa est" theo cung của bộ Lễ "De Angelis", nghĩa là rất dễ và rất quen thuộc: "Ì i i i tê... ế ê ế ề... ế ê ê ề ê..." Ngay cả trước khi giờ lễ, đang khi xếp hàng rước Chủ Tế, cố Pouclet vẫn còn cao giọng ôn lại lần cuối cho học trò. Mọi người còn nghe được rõ tiếng cố Laroque hát theo đúng y chang một cách dễ dàng. Vậy mà khi lễ xong, đàn đánh lại dòng nhạc chậm rãi rõ ràng, vậy mà ngài chỉ hát đúng có mấy dấu đầu tiên: "Ì i i i tê... ế ê ế ề..." Sau đó là một thảm hoạ. Ngài hát những dấu không có trong đàn. Đó có lẽ là lần đầu tiên và lần duy nhất toàn thể nhà nguyện cười trong giờ Thánh lễ. Từ đó chẳng bao giờ cố Laroque làm lễ chung tại nhà nguyện nữa.
Sau đó ngài chuyển sang giúp địa phận Kontum. Chúng tôi gặp lại ngài khi lên học tại Adran.
Phải nói là chúng tôi biết ơn ngài khi được ngài dạy physique. Ngài biết rành rẽ vấn đề. Và say mê với việc dạy physique. Và chỉ say sưa với môn physique mà thôi. Có điều ngài chỉ thích dạy học sinh... giỏi. Và hầu như ngài bỏ bê luôn những ai kém môn physique. Ngài chỉ có một lời phán quyết "chuyển sang Serie A!" Ngài nói tới "les gens de la Série A" luôn luôn với một cái nhún vai! Nói nhỏ với các bạn, ngài cũng dở Latinh một cây.
Ngay buổi học đầu tiên, với mọi học sinh, ngài có luật: Không được để cùi chỏ lên bàn vì bất cứ lý do gì. Ai lỡ quên sót, luôn luôn ngài hét lên: "Coudes!" Quả thực khi nghe giảng mà để tay chống cằm hay để cùi chỏ lên bàn thì buồn ngủ thật. Lớp chúng tôi có Cương Năm Rửa thường hay bị ngài nạt to trong lớp: "Coudes!"
Như nhiều cố Tây, ngài cũng có tật yên trí. Tôi cũng là nạn nhân một cách có lợi cho cái tật này của cố. Chuyện là như thế này. Trong lớp tôi những tay giỏi physique phải kể là Nguyễn văn Hoà, Trần Bá Ninh, và một anh ở ngoài là Trần Như Đình. Mỗi chiều thứ năm hàng tuần, trong khi cả trường nghỉ học, thì cố Laroque oái oăm bắt lớp terminale ôn tập bài thi physique. Tuần nào cũng có môt bài làm đúng tiêu chuẩn Bac, nghĩa là dài bốn tiếng, từ 2 giờ chiều đến 6 giờ chiều. Đề bài thì ngài lấy trong cuốn tổng hợp các đề thi physique các năm ở các nơi trên thế giới, vùng nói tiếng Pháp như Madagascar, Algérie, và cả những bài đã ra ở mẫu quốc. Những bài khó nhất là những bài về Ondes, Sóng, hay Interférences, Giao thoa Ánh sáng. Loại "Cho hai nguồn sáng đơn sắc cách nhau 1cm, Trên một mặt phẳng cách đó 1,2 m, người ta nhận thấy các vòng sáng và vòng tối xen kẽ nhau, cách nhau 2 cm. Tìm xem nguồn sáng đó là ánh sáng gì? Có độ dài bước sóng là bao nhiêu angstrom?... Mỗi bài có chừng năm hay sáu câu hỏi, ghi tuần tự từng bước của một cuộc thí nghiệm.
Đúng tiêu chuẩn của ngài, chúng tôi phải có hai đáp số: Resultat littéral trước. Sau đó mới là phần Application numérique, thay thế giá trị bằng số vào, và cho kết quả chính xác tới 3 con số lẻ có nghĩa. Thời đó chưa có máy tính, chúng tôi phải dùng bảng logarithm sao cho thành thuộc và nhanh. Thường bài ôn tập thi như thế chúng tôi làm nhanh chỉ trong vòng ngót nghét hai tiếng. Ngài thấy chúng tôi xong là chấm điểm ngay, khi vừa mới nộp. Bữa nào bí hay làm chậm là ngài cứ đi qua đi lại, tỏ vẻ sốt ruột giùm cho chúng tôi. Có lần, làm sai be bét, nhưng ngài vẫn yên trí và vớt vát cho đủ điểm trung bình!
Cố Laroque còn nổi tiếng về sở thích chụp hình. Bộ máy chụp hình của ngài thuộc lại "top" nhất thời ấy: máy Canon với cái ống zoom 130mm. Ngài thường xuyên xách máy lên Núi Sạn chụp về chủng viện, hay ra Hòn Chồng chụp về. Tấm hình logo chụp chủng viện từ Hòn Chồng trong trang Web Tâm Tư Sao biển cũng là do ngài chụp khoảng năm 1967. Có lần ngài nhờ cha Ban xin cho đi theo trực thăng bên trường HSQ, và từ trên cao ngài chụp được vài tấm không ảnh của chủng viện.
Ngoài cố Laroque, cha Ngọc và sau này cha Phú, cũng thích chụp hình. Thỉnh thoảng các đấng xách máy chụp lung tung nhiều cảnh sinh hoạt trong chủng viện, sau đó rửa ra rồi đánh số thứ tự treo trên một cái bảng lớn ở hành lang giữa nhà. Ai muốn mua ghi tên. Tấm hình chụp Đức Mẹ Sao Biển là do cha Ngọc chụp.

10. Cố Đề (Nédelec)
Dường như cố Nédelec là cố Tây cuối cùng tới chủng viện. Người gầy nhom, dáng đi hay chúi về đằng trước và lúc nào cũng đeo mắt kính râm, cả khi ngài ngồi dạy học trong lớp. Ngài có chiếc xe Deux Chevaux.
Vì biết chích thuốc nên ngài phụ trách nhà bệnh. Món thuốc ngài trị bách bệnh là gargarisme = thuốc súc miệng. Bất kể là bệnh gì: cảm, cúm, sổ mũi, lên cơn sốt cao hay tiêu chảy, việc đầu tiên là mỗi anh môt ly nước đầy pha vài muỗng thuốc súc miệng, vị hơi đăng đắng, hơi the the. Và Ngài bắt phải súc "cổ họng" cho thật sạch. Nghĩa là phải ngậm một miệng đầy, rồi ngửa cổ mà súc rọc rọc rọc trong cổ họng.
Cứ sau giờ cơm sáng là giờ xin thuốc. Các bệnh nhân làm thành một hàng dài trước cửa phòng bệnh. Ban đầu, phòng bệnh là phòng cơm các cha, nằm giữa phòng cha quản lý và nhà cơm. Sau này, phòng bệnh chuyển sang phòng Lab, đối diện với phòng học chú Nhỏ bên dãy nhà chú Lớn, nằm ngay dưới phòng của cố Nédelec. Tôi đã có dịp nằm bệnh tại phòng này một tháng năm septième vì bị thương hàn, thời cha Ngọc làm cha y tá.
Điều đặc biệt thứ hai của y tá Nédelec là sợ "courant d'air". Cửa phòng bệnh phải đóng kín mít. Các bạn thử nghĩ coi: phòng thì cửa kính, mà bắt đóng hai bên thì khí bị tù túng. Cửa sổ lại cũng có màn xanh che kín. Mùi phòng bệnh ứ lại, khó chịu vô cùng. Không có bệnh cũng thành bệnh. Chúng tôi khiếu nại điều này mãi, nhưng vẫn không thay đổi được y tá Nédelec. Cứ vào trước giờ cơm trưa hay tối, đang lúc cả nhà đọc kinh Nhật Một, thì một anh lo việc phòng bệnh được quyền ra trước, xuống bếp bưng cháo cho các bệnh nhân. Có năm tôi phụ trách công tác này, nên đến bây giờ tôi vẫn còn cảm thấy được cái mùi nồng nặc của phòng bệnh bí hơi vì sợ "courant d'air" của y tá Nédelec.
Từ năm tôi học cinquième đến năm troisième, Cố Nédelec phụ trách dạy Histoire. Ngài chẳng hề giảng giải gì thêm, chỉ vào lớp thay phiên bắt một người đọc một đoạn rồi thỉnh thoảng cắt nghĩa một vài chữ khó mà chúng tôi có thể tự mình tìm nghĩa trong phần lexique. Và khi ra đầu đề bài thi thì ngài chỉ cần nêu đầu đề của nguyên một chương sách. Đó là lý do tại sao bác Lê Tứ của chúng tôi thuộc lòng nguyên chương sách. Năm này sang năm khác, lớp trước đánh dấu trong sách những đoạn Cố hay nhấn mạnh, và nói lại cho lớp sau, nên hầu như ai cũng đoán được bài nào sẽ thi. Đến lúc nhận thấy nhiều người học trúng tủ quá, ngài thay đổi chiến lược, ra đầu đề là những đoạn chẳng quan trọng hay không còn lập lại năm trước.
Tôi còn nhớ một kỷ niệm vui với cố Nédelec. Năm troisième, tôi được giao cho trọng trách chiếu xinê cho chủng viện. Hồi còn trong ban giúp lễ ở Ba Làng và nhất là những năm sau này khi đã vào chủng viện, tôi phụ trách việc chiếu phim cho giáo xứ. Cha xứ Ba làng nhiều lần nhờ ban thông tin chiêu hồi và tâm lý chiến của Trường Hạ Sĩ Quan về chiếu xinê công cộng cho dân coi, nên nhờ đó tôi học được cách ráp phim, nối phim đứt và sử dụng máy chiếu xinê. Thời ấy hai loại máy chiếu phim công cộng thịnh hành là máy Victor chiếu phim tám ly. Còn máy kia hiệu gì tôi không còn nhớ tên. Nhưng chúng tôi hay gọi là loại máy Thông Tin, vì ty thông tin hay dùng máy này, chiếu được phim 35 ly CinemaScope. Thỉnh thoảng cha xứ còn mượn phim và sai tôi mang máy vào chiếu cho các sơ Dòng Kín giải trí. Trong chủng viện năm ấy còn có một anh cũng biết chiếu phim sơ sơ. Hình như là bác (Quách) Tĩnh nhà ta hay bác Tiên, tôi quên mất. Chẳng may hôm ấy tôi bị cúm. Đã ba ngày bị sốt cao và nằm nhà bệnh rồi. Cố Nédelec đã cảnh cáo coi chừng bị courant d'air và cho gargarisme ngày ba lần sau mỗi bữa cơm. Nhưng cơn bệnh vẫn còn dai dẳng. Tối thứ tư tuần ấy tôi biết có chiếu xinê, vì đã thấy tấm bảng màu trắng to treo lên giữa nhà chơi chú Trung. Nhưng không ai nói, mà cũng chưa được phép ra khỏi phòng bệnh, nên tôi đành chiu trận. Cha bề trên Sách không nhớ rằng tôi đang bệnh, mà cha Nédelec thì cũng chẳng biết tôi còn có nhiệm vụ chiếu xinê. Mãi cho đến khi các bạn loay hoay với máy chiếu mà không được, Cha bề trên Sách đành cho một anh nói với cố Nédelec. Ngài miễn cưỡng cảnh cáo: "Je ne sais pas s'il va bien ou non!" May mắn buổi chiếu diễn ra tốt đẹp, mà bệnh tôi cũng không vì thế mà nặng thêm. Ai cũng vui vẻ.
Nhân tiện nhắc lại những buổi chiếu xinê. Chúng tôi không thể nào quên cố René Gantier. Ngài có cái máy projecteur dùng để chiếu phim positive, hay nói theo ngôn ngữ hiện thời là chiếu slide. Nhưng thời ấy các chú chẳng ai thích. Ai cũng gọi là chiếu phim gỗ. Chẳng hiểu từ đâu mà có cái từ này. Chắc tại chỉ chiếu hình, mà người trong hình thì đứng yên như khúc gỗ. Chẳng đặng đừng mà ai cũng phải coi. Coi mà ai cũng khổ sở như dự đám ma. Thỉnh thoảng ngài kiếm đâu được bộ hình tài liệu về Đất Thánh, về Đền Thánh Vatican hay về cuộc đời Chúa Giêsu, hoặc ngài chụp lại hay mượn về chiếu cho các chú mở mang kiến thức.
Vì miễn cưỡng và cũng chẳng ai thích nên buổi chiếu slide thường diễn ra ồn ào. Chẳng ai nghe ngài thuyết minh. Rồi bực mình lên ngài hay nói lộn. "Tắt điện đi" hay "Bật điện lên" thì không nói, ngài lại la to:"Tắt điện lên!" Thế là đang buổi chiếu phim, một anh (hình như là Nguyễn Ngọc Thịnh lớp tôi) đứng gần cột nhà có cái công tắc điện, ngây thơ bật điện sáng lên. Cả nhà chơi cười ầm. Sau mỗi lần chiếu xong một set hình, cả nhà chơi từ đó đồng loạt vang lên câu: "Tắt điện lên!" Ngài nổi cáu, suýt văng tục. Từ đó chúng tôi thoát cái nạn coi phim gỗ.

11. Cố René Gantier Thể
Trước khi về Chủng Viện, cố đã là một tay sinh hoạt Thanh Lao Công có hạng ở VN và ngài đã từng làm tuyên úy cho phong trào này.
Về chủng viện, ngài dạy tiếng Pháp cho lớp troisième chúng tôi. Ngài dạy thoáng hoạt, nên thường xuyên cho chúng tôi nghe các dĩa hát mới nhất của Enrico Marcias, nam danh ca mới nổi lên thời bấy giờ với bài C'est bon la vie, của Nana Mouskoury, cô ca sĩ người gốc Hylạp với cái kiếng cận gọng đen to tròng, đang nổi tiếng với bài Oui Devant Dieu. Ngài còn chịu chơi cho chúng tôi nghe những bài của Mireille Mathieu, của France Gall, đang lên với bài C'est ce sacré Charle-magne... Và nhiều nữa mà tôi không còn nhớ hết. Có lần ngài cho chúng tôi nghe một vài bài của danh ca Edit Piaff, nhờ đó mà chúng tôi biết Edit Piaff là ai và giọng ca trong vút của bà như thế nào.
Cố Gantier hay mặc áo chùng trắng, giống như cố Hirigoyen. Sau này tôi mới biết lý do: mặc áo trắng mát hơn mặc áo đen. Kể ra trong số các cố tây, thì cố Gantier nói tiếng Việt rất lưu loát, ngoại trừ câu "Tắt đèn lên" nổi tiếng trên kia. Đi đâu ngài thường cầm theo cái dù đen, dù nắng hay mưa.

12. Cố Hirigoyen
Tên Việt của ngài là cố Hy! Dễ dàng và dễ nhớ. Ngài rất đẹp trai, luôn mặc áo dòng trắng và có nụ cười dễ mến. Ít thây ngài xuất hiện, ngoại trừ giờ dạy học và giờ cơm.
Ngài gốc người Basque. Đó là một nhóm dân có nguồn gốc đặc biệt, có tiếng nói riêng, sống giữa biên giới hai nước Pháp và Tây ban Nha, vùng núi Pyrénée. Họ không phải gốc Pháp cũng chẳng phải là gốc Tây Ban Nha. Vụ khủng bố vừa rồi xảy ra tại Madrid nhắm vào các tuyến xe lửa tại Nhà Ga Trung Ương mà người ta đồn là do ETA, nhóm đòi độc lập tự trị cho người Basque, khiến tôi nhớ đến ngài.
Các lớp đàn anh đều khen ngài dạy văn phạm rất hay và rõ ràng, nhất là cách dùng động từ ở mode subjonctif. Rất tiếc lớp chúng tôi không được học với ngài một giờ nào. Và Thường Nò luôn luôn nhắc lại với tôi rằng: "Tiếc quá. Tiếc cho chú mày không học được với cố Hy". Ngược lại chúng tôi còn được các lớp đàn anh chia sẻ cho tài liệu quay ronéo mà ngài đã soạn. Quả có rõ ràng, nhưng không có thầy chỉ dẫn, chúng tôi đành mù tịt và không thể nào phân biệt được cái tế vi giữa các temps của mode subjonctif rắc rối.
Tài liệu quay ronéo hồi đó không phải là ronéo sau này dùng mực đen. Nhưng là ronéo dùng alcohol. Tờ stencil thường dày như tờ lịch treo tường, một mặt thì trắng, còn mặt kia thì áp vào một tờ "carbon". Đúng ra một là một tờ giấy mỡ, có một lớp bột mực dày màu tím. Khi đánh máy chữ, mặt sau của tờ stencil dính mực. Ráp tờ này vào máy quay ronéo alcohol. Mặt sau của tờ stencil lăn qua một cái trục tròn ướt đẫm alcohol, trước khi lăn qua tờ giấy trắng để in bản sao vào đó. Mỗi tờ stencil alcohol như thế cùng lắm sao ra được chừng 50 tờ.
Ngài luôn ở phòng đầu hồi dãy nhà chú Lớn, trên lầu. Đó là căn phòng mát và đẹp nhất Chủng viện. Tuy thế đó là phòng duy nhất có máy lạnh chạy ngày đêm.

Hoà 62-63 với cố Hy:
Cố Hirigoyen là vị cứu tinh của tôi nên tôi có nhiều cái nhớ... Nhờ ngài can thiệp mà tôi được vào tu trở lại sau một năm dại dột trốn học. Có lẽ trong tất cả các cha giáo sư ở Sao Biển, ngài là giáo sư có khiếu về sư phạm nhất. Ngài dậy môn nào cũng được, môn nào cũng hay và dễ hiểu. Tôi may mắn được học Pháp văn với ngài. Rõ ràng, dễ nhớ. Học văn phạm với ngài, dở như tôi cũng thành văn sĩ(!).
Năm cinquième tôi được học với ngài môn sciences naturelles. Ngài dạy cũng hay như môn Pháp văn. Thực là một cha giáo tài ba! Ngài đẹp trai, cười duyên dáng và sportif nữa. Ngày nào ngài cũng đi tắm biển, dù cho biển êm hay biển động, với bộ đồ tắm sexy (đối với thời đó).
Ngài thích trồng xương rồng (cactus), chúng tôi đã bắt chước ngài và được ngài cho những mầm nhỏ để cấy. Thời đó trên bàn học hay dưới giường ngủ, ai cũng có một chậu kiễng nhỏ.
Tôi được gặp lại ngài trong những năm 1995-1996 khi ngài làm Directeur du Centre des Etudiants Asiatiques ở Paris. Ngài luôn nhớ và tìm cách giúp đỡ dân Á châu, đặc biệt dân Việt Nam.
Ngài mất tại Paris năm 2001.Xin Chúa trả ơn bội hậu cho người thiện tâm.

Khang tiếp lời:
Bác Hoà góp tiếng nhắc tôi mới nhớ chi tiết cố Hirigoyen có thú trồng xương rồng. Đó là một cái passe-temps của ngài. Trên balcon trước phòng ngài có một loạt hai ba chục chậu xương rồng nhỏ tý. Đủ loại và đủ hình dáng. Với cái nắng ở Nha Trang và cát bãi biển, cũng như có ít giờ rảnh, thì việc sưu tập và trồng xương rồng là thích hợp nhất. Thỉnh thoảng cho một vài giọt nước là đủ rồi. Nhờ bộ sưu tập này mà tôi biết thêm được nhiều cây xương rồng mới trong đời trước giờ chưa hề thấy. Với tôi, xương rồng chỉ là loại có thân là từng mảng to bằng bàn tay và gai lởm chởm, mọc đầy dọc bên đường quốc lộ khi vào gần Phan Rang hay ra Tuy Hoà. Cố rất tự hào với cây mà cố cho biết tên gọi là Bạch Đầu Ông. Cây tròn như một trái chuối cau, nhưng chung quanh phủ đầy lông tơ, trắng và dài, như tóc bạc trên đầu vị tiên ông.
Chi tiết thứ hai bác Hoà làm tôi nhớ lại Cố Hy thường mặc cái áo thun trắng, bằng lưới to sợi. Nom rất là sexy và không giống cố Tây, mà giống tài tử Tây.
Cha Hirigoyen mất ngày 2 tháng 7 năm 2001 tại Missions Etrangères do nhồi máu cơ tim. Ngài được an táng tại Pays Basque, quê hương của ngài.

13. Cha bề trên Nguyễn công Nghị
Dáng người cao, không to, nhưng như tên gọi, Cha bề trên Nguyễn Công Nghị rất cương nghị. Không biết có phải vì hàm răng giả, mà ngài thường phải nghiến chặt hàm răng để răng khỏi rơi, khiến chúng tôi ngỡ ngài lúc nào cũng muốn nêu gương cho chúng tôi biết "agir à contre volonté" để tập ý chí.
Đầu tròn, ít tóc nhất trong các cha bề trên, chỉ thua Cố Vị, ngài không ký tên bao giờ, ngài có một con dấu khắc sẵn chữ ký. Cuối thư hay cuối mỗi giấy tờ, ngài chỉ cần "đóng dấu" chữ ký bằng mực xanh. Cho nên chữ ký của ngài rất đều, trăm chữ như một, bắt đầu là chữ "Jos" có chữ "o" thật tròn. Chỉ bằng vào chi tiết ấy chúng tôi thấy ngay thời ngài làm Cha bề trên (1964) là thời nghiêm túc nhất. Đâu phải ra đó.
Tôi không còn nhớ rõ ngài làm bề trên trong bao nhiêu năm, một hay hai năm, nhưng chắc chắn là vào năm đầu ngài làm bề trên, 1964, chủng viện có một cuộc canh tân đầu tiên: chúng tôi bỏ cái áo dài "ta" để thay bằng bộ âu phục. Gọn gàng và hợp thời hơn. Nói cho đúng, vào những năm 1963-1964, cái áo dài thâm ấy chưa có vẻ cổ lỗ lắm. Về xứ chúng tôi còn mặc nó vào những dịp đi kiệu Hoa tháng Năm, hay Kiệu Sancti ngày lễ Mình Máu Thánh Chúa tháng sáu, chung với đoàn Ca Vịnh của giáo xứ. Rõ ràng ai cũng thích chuyện canh tân này, tuy rằng mặc áo dài kiểu "cụ Lý" xem ra hợp với sự nghiêm trang trong nhà thờ, và -của đáng tội- cái áo dài nó tiện hơn nhiều, nhất là khi mặc với quần ta trắng. Dù trễ giờ cách mấy, thì chỉ cần lồng quần ta vào là xong. Lưng quần bằng giây thun, nên dễ mặc. Rồi vừa chay theo hàng vừa xỏ tay áo dài, vừa cảm thấy gió lồng vào ống quần mát rượi phía dưới. Cùng vận tốc như thế, chả ai đóng bộ quần tây kịp.
Từ khi rời tiểu chủng viện, tôi không có dịp gặp lại Cố Nghị, cho đến ngày nhận được tin bất ngờ từ nhà thờ Chánh Toà cho biết ngài qua đời trong lúc ngủ, tay còn lần chuỗi Môi khôi, khoảng năm 1976-1978 (?). Tôi không nhớ chắc chắn năm nào. Hẳn anh Hiệp và cha Phong còn nhớ rõ ngày giờ, vì hai vị này, nhân biến cố đau buồn này của giáo phận đã làm hai bài hát tiễn đưa, mà tôi nhớ một câu đầu như sau: "Người nằm xuống, bạn bè tiếc thương. Người ra đi, người thân đau buồn..." Cùng với nhiều người nhiều giới, chúng tôi đã viếng xác, dự Thánh lễ an táng của ngài, và tiễn đưa ngài đến nơi an nghỉ cuối cùng là nghĩa trang Võ Cạnh, nằm bên quốc lộ Nha Trang - Thành, phía chân núi.

14. Cha Nguyễn Hữu Ban
"Ngọc ơi, Ban đây!"
Có lẽ trong các Cha Giáo tiểu chủng viện, chúng tôi có nhiều kỷ niệm với Cha Nguyễn Hữu Ban nhất.
Năm 1963, ngoài công việc làm Cha Giáo tiểu chủng viện, ngài còn được Đức Cha Marcello chỉ định làm Tuyên Úy Trường hạ sĩ quan Đồng Đế. Như thế trước khi vào tiểu chủng viện, chúng tôi đã có dịp đi dự lễ sáng chúa nhật ngài làm cho các khoá sinh Công giáo tại nhà thờ Văn Côi Ba Làng của chúng tôi.
Không biết có bạn nào lưu ý chi tiết này không? Tại sao nhà thờ Ba Làng lại nằm ngay đầu làng, mà không nằm giữa làng để cho mọi người trong làng đi đến nhà thờ xa bằng nhau? Là vì sau khi nhà thờ bị cháy (khoảng năm 1957), nhà thờ mới đã được dựng lên trên miếng đất đầu làng, để tiện cho các khóa sinh Trường hạ sĩ quan tham dự Thánh lễ. Nhà thờ Ba Làng cũng đồng thời là Nhà Thờ của Trường hạ sĩ quan, và sau này chính Cha xứ Ba Làng là Cha Tuyên Úy, trước khi nhà thờ Đồng Đế (mà chúng tôi gọi là nhà thờ Quân Đội của Cha Kim) được xây cất.
Tôi nhớ Cha Ban có nét chữ viết rất đẹp và kỹ. Nhiều người trong chúng tôi bắt chước nét chữ của ngài. Chữ "k" viết tay của ngài khó có thể lẫn lộn với chữ của ai khác.
Đẹp trai, rất đẹp trai nữa là đàng khác, lại bay bướm, cha Nguyễn Hữu Ban có nước da trắng. Tính nết lại rất xuề xoà, nên các chú rất thích lên phòng ngài. Phòng ngài nằm ngay trên phòng học chú Nhỏ, thường xuyên có nhiều kẹo bánh, và cả rượu whiskey, với một dàn máy Akai và dàn phono rất hiện đại so với thời bấy giờ. Hầu như ngày nào cũng có xe "jeep" của Phòng Tuyên Úy vào kiếm ngài. Làm Tuyên Úy thì thế nào cũng có vài anh lính tà lọt được biệt phái sang giúp. Thế là khi có xe tới, ngài đóng bộ đồ lính vào và lên xe đi.
Với dàn máy đồ sộ như thế, ngài có nhiều dĩa và băng nhạc, mà ngài cũng thoáng để cho chúng tôi nghe ké. Những hôm nghỉ lễ, ngài mở nhạc thật to: thường là nhạc cổ điển. Bài mà chúng tôi nghe nhiều nhất là bài "Marche Des Rois" La mì la... si do si do là mí... Thỉnh thoảng ngài mang dàn máy vào nhà cơm, và cho chúng tôi nghe nhưng bài như Hòn Vọng Phu của Lê Thương, Trường ca Con Đường Cái Quan hay Mẹ Việt Nam của Phạm Duy do ban Hợp ca Thăng Long. Sau này, khi phong trào nhạc Vào Đời của dòng Chúa Cứu Thế nổi lên, thế là chúng tôi được nghe đến thuộc lòng những bài của Thành Tâm, Sĩ Tín, Anh Tuấn với những bài như Chúa Yêu Trần Thế, Cùng nhau ta hãy theo Ngài tiến bước...
Có năm ngài phụ trách việc tập hát, dường như đó là năm chúng tôi cinquième. Ngài tập cho chúng tôi hát một bài mà ngài biết từ hồi ngài học trong đại chủng viện Thánh Giuse Sài Gòn. Chúng tôi chỉ nhớ câu đầu như sau: "Ôi đêm âm u, Ôi đêm bi ai, Ôi đêm thảm sầu.." Tập mãi mà ngài vẫn cho rằng chưa đủ độ rền rĩ, thích hợp với Thứ Sáu Tuần Thánh. Bài ca độc đáo ấy, sau này ra xứ tập hát bao nhiêu năm, tôi chưa hề thấy nó được phổ biến nơi nào.
Có môt dạo, ngài muốn chúng tôi thu thanh để phát thanh trên làn sóng điện của chương trình Phát thanh Tuyên Úy Công Giáo. Ngài tập nhiều bài lắm, một trong những bài tôi còn nhớ là bài "Quỳ bên cung thánh, lòng con thiết tha kêu cầu Chúa..." cùng với sự giúp sức của Nhạc Sĩ Anh Linh, thêm vài anh lính nhạc công mang đờn Contrebass vào. Nhưng chỉ tiếc là tiểu chủng viện không có phòng thu thanh đúng tiêu chuẩn. Thâu băng trong phòng học thì ồn quá. Gió nồm thổi, tiếng sóng biển ì ầm cũng lọt vào máy, mà thu trong nhà nguyện thì tiếng vang (reverb) quá nhiều. Với cái mái vòm kiểu gothique đúng tiêu chuẩn, chỉ cần một anh trong số gần 100 người, chà nhẹ chân trên thềm ximăng, tiếng động ấy cũng được thu vào băng. Tội nghiệp anh lính đánh contrebass, dù đã bị đày ra đứng tận gần cửa ra vào, và đã đánh rất khẽ, tiếng đờn thùng thình rền rĩ ấy cũng át cả tiếng hát của chúng tôi. Sau nhiều hôm thất bại, việc thâu băng bị hủy bỏ, trong niềm hân hoan của mọi người chúng tôi. Tuổi đang sức lớn, cần giờ chơi, mà thu băng thì lại nhè vào giờ chơi chính ban chiều... Giá mà Cha Ban cho thu băng vào giờ học thì chắc chắn đã thành công rồi.
Lên năm quatrième, chúng tôi bắt đầu được đoàn ngũ hóa theo tinh thần Hướng đạo, có lẽ là do tinh thần cách tân của Đức cha Thuận. Dịp Phục sinh, chúng tôi được đi trại tại Phù Sa, là xứ đạo nhỏ bên bến sông Cái, đối diện với Chợ Mới. Phù Sa là họ lẻ của xứ Chợ Mới, lúc bấy giờ không có cha xứ, chủng viện vừa cắm trại tại khoảng đất trống bên bờ sông, vừa giúp Phụng Vụ Tuần Thánh cho bổn đạo Phù sa. Toàn chủng viện các lớp lớn nhỏ chia thành từng đội. Tôi cũng được phân phối coi một toán chừng mươi anh. Một trong số các bác cùng nhóm của tôi năm ấy là bác Lưu Thanh Kỳ. Ngoài việc phụ trách một nhóm, tôi còn giữ chức kỹ thuật viên, nghĩa là trông coi máy phát điện, lo việc bắt điện trên khu vực đất trại, chiếu xinê tại trại và giữ một cái máy liên lạc PC88. Máy này do cha Ban mượn của Trường hạ sĩ quan. Ngài mượn hai cái, anh đi đầu đoàn giữ một cái, còn tôi đi sau cùng giữ một cái, thỉnh thoảng liên lạc với nhau.
Sáng sớm Thứ Năm Tuần Thánh toàn thể chủng viện trong đồng phục Hướng đạo, vai đeo balô, đi thành hàng hai, băng qua quốc lộ Một theo đường lên Trại Cùi Núi Sạn. Vừa đi tôi vừa liên lạc với bác Trần Xuân Phi, qua máy điện đàm. Khổ một nỗi, không biết Ban Truyền tin của Trường hạ sĩ quan có thông báo cho Ban Kiểm Thính biết là có chúng tôi sử dụng cùng tần số quân đội hay không, mà khi đi ngang Núi Sạn, một giọng nói đanh thép hét vào máy: "Các anh là ai?" Sợ quá, chúng tôi phải giao máy lại cho Cha Ban. Sau khi đi dọc theo đường xe lửa, chui qua hầm xe lửa, rồi men theo bờ sông, đi qua một cái nghĩa trang nhỏ, có cái cầu nhỏ bằng ximăng bắc ngang cái đập ngăn nước bé tí, và đi thêm một đoạn ngắn là chúng tôi tới nhà nguyện Phù Sa, nằm sát bên bờ sông, ngay bến đò. Nhìn sang phía bên kia sông, chúng tôi thấy rõ Chợ Mới. Sau này mỗi khi nghe bài hát nào về bến đò, như bài Cô lái đò Bến Hạ hay bài Chuyện ông lái đò, tôi luôn luôn nhớ tới bến đò Phù Sa này. Và cả bây giờ, khi đang ở xa quê hương, tôi vẫn nhớ rõ mồn một nhà nguyện Phù Sa mà sau 75 khi các Cha Phanxicô tới coi sóc, tôi có ghé lại thăm các ngài, thăm lại đất trại xưa, và nhất là đứng dưới gốc cây gạo lúc bấy giờ đang nở hoa, thúi hoắc cả một vùng.
Khu đất trại chúng tôi chỉ cách đó vài bước nằm giữa một rặng tre gìà, sát bờ sông. Ngay khi tới đất trại, tôi phải lo đi xếp đặt máy phát điện, bắt đường giây điện. Chính chỗ này tôi học được lối bắt bóng điện kiểu...lính. Chỉ cần dùng hai cái kim gút hay kim băng, cắm qua giây chính, rồi nối vào bóng điện có douille. Thế là có được một chuỗi bóng đèn mà không cần cắt lớp nhựa bao bọc giây điện chính. Đội chúng tôi tham sự mát mẻ, dành một khu đất cát gần mé sông nhất để đóng trại, cho mình là lanh trí nhất, vì muốn gần sông sẽ tiện việc lấy nước, và rửa ráy nồi niêu. Nào ngờ, chưa đầy sáu tiếng sau, khi thủy triều lên, nước triều tràn vào cửa Cầu Bóng, làm cho nước sông Cái dâng lên. Cả một bãi cát khô bây giờ sũng nước, chúng tôi phải dời lều. Các nhóm khác được dịp hả hê. Chúng tôi tự an ủi rằng duy nhất chỉ nhóm chúng tôi thực hiện... trại bay đầu tiên. Nhờ thế mà chúng tôi học được bài học thú vị về thủy triều. Tôi dân biển, ở sát biển, quen với thủy triều hằng ngày, thậm chí học thuộc cả bài vè về thuỷ triều, biết được nước triều lên ngày nào, tháng nào, vào lúc mấy giờ. Vậy mà đến khi đóng trại gần bờ sông Cái bên bến đò Phù Sa, lại không ngờ nước triều vẫn theo tôi tới chỗ cắm trại. Chi tiết ấy sau này khiến tôi thú vị vô cùng khi đọc Tam quốc Chí, tới đoạn trận chiến sông Xích Bích, lửa của Khổng Minh đốt mười vạn quân Tào đóng dọc sát bờ sông.
Sau khi rời tiểu chủng viện, tôi không còn gặp lại Cha Ban. Cho đến một hôm, sau 75, (không nhớ rõ là năm nào) tôi nghe tin Cha Ban đã được về.
Tôi phải kể lại chi tiết này để anh em bồi hồi với tôi một chút. Khi nghe tin vui đó, sáng hôm sau tôi lập tức sang Toà giám mục để thăm lại ngài. Cha Ngọc kể lại như sau: "Tối qua khoảng 9 giờ, có một ông già vào gõ cửa phòng. Mình đi ra, thấy một ông già lạ mặt, tóc bạc, hom hem, mình hỏi: "Ông cần chuyện gì?" Lúc ấy "ông già" mới nói: "Ngọc ơi, Ban đây!"

15. Cha Bề Trên Hồ Ngọc Hạnh
Nếu cho bỏ phiếu chọn cha bề trên nào "dễ thương" nhất, tôi nghĩ Cha bề trên Hạnh sẽ được cao phiếu nhất. Tôi cho ngài dễ thương vì ngài thương các chú nhiều, đến độ chúng tôi biết cái tẩy đó mà bắt chẹt ngài. Muốn xin ngài điều gì, chỉ cần năn nỉ. Chưa được thì năn nỉ tiếp, thế nào ngài cũng thua mà chiều lòng chúng tôi.
Thấp người, khuôn mặt lúc bình thường thì hiền từ với ánh mắt rất vui và có vẻ nhí nhảnh nữa. Nhưng chúng tôi không thấy được sự nhí nhảnh trong ánh mắt của ngài, vì cái gọng kiếng lão ngài phải đeo, và phải đeo trễ xuống giữa sống mũi. Lúc đọc bài hay đọc notes trong tập viết, ngài phải nhìn qua kiếng. Khi nói hay giảng thì cái kiếng lão không cho phép ngài nhìn thấy xa được, vì thế ngài phải liếc lên trên cái kiếng mà nhìn thì mới thấy rõ chúng tôi. Tôi chỉ ngộ ra được điều này khi bây giờ phải đeo kiếng lão để đọc sách báo. Ngài hút thuốc cũng nhiều và liên tục. Giỏi tiếng Latinh và cả tiếng Anh. Ngài dạy chúng tôi tiếng Latinh năm quatrième. Chi tiết này khiến tôi nhớ tới một kỷ niệm thú vị.
Các bạn còn nhớ chứ, toàn bộ chương trình tiếng Latinh năm trung học, chúng ta học theo sách của ông Petitmangin. Cả cuốn Grammaire và các cuốn bài tập. Sách bài tập gồm phần dịch các từ ngữ ở các cas khác nhau: nominatif, vocatif, genitif , datif, ablatif và accusatif, rồi đến phần dịch các câu ngắn, trích từ những câu cách ngôn nổi tiếng, rồi đến phần thème và version. Mỗi anh lại có hai cuốn tự điển, một cuốn tự điển nhỏ, loại bỏ túi của nhà sách Larousse, và cuốn kia to hơn, to gần bằng cuốn vở. Mỗi khi làm bài, ai cũng lật tự điển gần như mỗi chữ. Chắc chỉ có chữ rosa và agricola là không cần giở tự điển còn ngoài ra thì tôi không dám chắc.
Trong một bài version, bác Lê Tứ chúng tôi dịch hai chữ tên riêng "Quintus Catulus" (một vị tuớng nổi tiếng của Roma vào khoảng năm 102 trước Thiên Chúa, ông tổ của Hoàng đế Julius Ceasar sau này. Ông tướng này định tiến quân vượt rặng núi Alpes để đánh lại dân Cimbri, nhưng ngần ngại và bại trận, sau được Tổng tài Marius tới cứu kịp thời). Tên ông thành ra "Les cinq petits chiens". Và câu "những người phụ tá cho nữ hoàng" ("coadjutores Reginae") thành "Les soutiens de la Reine". Bác Tứ chỉ dịch như thế, nhưng trong đầu chúng tôi thì nghĩ ngay tới cái soutien-gorge của nữ hoàng nào đó trong cổ sử Lamã sao mà tân tiến, đã biết dùng những thứ không cần thiết vào lúc ấy. Dĩ nhiên ai trong chúng tôi cũng có những lỗi ngớ ngẩn như thế, nhưng hai kỷ niệm tiếng Latinh này khiến chúng tôi lại nhớ dai nhất. Vì đọc đến đây Cha bề trên Hạnh cười vui thật là vui.
Thời ngài làm bề trên, bầu khí trong tiểu chủng viện có vẻ thoải mái. Nhưng cũng phải thú thật là kỷ luật cũng có vẻ hơi lỏng lẽo. Phong trào học nhạc và đờn được dịp bùng phát. Mà rồi nghĩ lại đôi khi chúng tôi thấy mình cũng có vẻ thiếu sự kính trọng đủ mức dành cho ngài, vì thấy ngài tốt bụng và rộng lượng, nên chúng tôi lấn lướt. Nhờ ngài ngoại giao với quân đội Đồng minh, chủng viện cũng đã có dịp đi thăm căn cứ Tiếp Vận của quân đội Đại Hàn, đóng ở gần đèo Rù Rì, phía bên Đắc Lộc. Chúng tôi đã lên đó tham quan và hát lễ cùng với Cha Tuyên Úy Đại Hàn.
Sau này ngài đổi về làm cha xứ Chợ Mới và là cố vấn cho Đức Cha Hoà trong thời gian dài.

16. Cha bề trên Nguyễn Tôn Sùng
Thời Cha Sùng làm bề trên, chúng tôi không còn ở Sao Biển, chúng tôi đã lên học trên Chuá Chiên Lành. Tôi rời Sao Biển vào mùa hè năm 1969.
Nhưng kỷ niệm tôi còn nhớ được về ngài là ngài giỏi, rất giỏi tiếng Latinh. Tôi vốn dốt tiếng Latinh, chả bù với bác Hồ Mạnh Tín. Bác ấy có khiếu về ngôn ngữ. Tôi ngờ bác Tín chắc phải là học trò cưng của Cha Sùng. Sau này về xứ, có dịp làm việc với bác Tín, gặp chữ ngoại ngữ nào khó, hỏi bác Tín, thì bác tận tình chỉ vẽ cho, từ cái radical tiếng Latinh, biến thái sang họ Anglo-Saxon như thế nào, họ Germanic như thế nào, rồi họ Franc... Thiếu điều bác ấy còn chỉ rõ sang cho tới họ Slavic của hai Thánh Methodo và Cyrillo nữa thôi.
Cha Sùng khi dịch Version Latinh, chả cần tự điển. Nguyên một sự ấy thôi thì chúng tôi đã khâm phục lắm rồi. Ấy là chưa kể khi ngài nói đúng luật trừ câu mấy, trang mấy trong sách Grammaire. Nhất là khi dịch những đoạn trích từ những bài diễn thuyết nổi tiếng của Caesar, nhờ ngài chỉ vẽ, chúng tôi mới thấy được cái hùng biện của những lời lẽ ấy. Biết thì biết vậy, nhưng hồi ấy, kiến thức còn non kém, lẽ ra phải biết cả lịch sử, hoàn cảnh của những bài diễn thuyết ấy thì mới thấy được trọn vẹn cái danh tiếng của nó. Lúc ấy thì chỉ mong dịch cho đúng một bài Version gần 20 hàng trong vòng 1 giờ 15 phút bài làm ban trưa hay 1 tiếng 45 phút giờ étude ban chiều.
Nhân kể chuyện về Cha Sùng, tôi lạm bàn về cái tiếng "Latanh". Không biết các bác nghĩ thế nào chứ tôi vẫn thắc mắc không biết ngươì Lamã ngày xưa làm sao nói được thông suốt tiếng Latinh? Nói một câu ra mà chữ nào cũng chia, thì sao mà đầu óc chia các cas cho nhanh và đúng được. Hồi ấy tôi nghĩ rằng người Lamã ai cũng cà lăm cả. Phải tìm cas cho đúng rồi chậm chạp xếp chữ, để dành động từ sang một bên, đến khi gần hết câu, muốn kết thúc, thì phán ra động từ. Tháng trước khi có dịp xem phim The Passion of the Christ của Mel Gibson, tôi cố gắng lắng nghe mấy người lính nói tiếng Latinh, thì chẳng thấy ai cà lăm cả. Họ nói tự nhiên như mình nói tiếng... Việt. Chỉ loáng thoáng nghe được ngườì lính đếm số roi: "Uno.. duo... tres ..." cho đến "...triginta". Sau khi Chúa dừng lại nói chuyện với Simon người Cyréné thì nghe được ngườì lính dục toáng lên: "Vade!" Tôi nhủ thầm sẽ phải xem lại phim này nhiều lần để học Latinh Vivant.
Cha Sùng có đặc điểm là cũng hút thuốc liên miên, nên giọng ngài hơi khàn khàn, và tóc thì bạc phơ, tuy ngài chưa cao tuổi. Tôi nghe nói đó là kết quả của một cuộc giải phẫu.
Hè năm 1969, hết năm troisième, tôi và bác Trần Bá Ninh được lưu lại tiểu chủng viện một tuần để làm giám thị kỳ thi vào chủng viện. Đó là năm thi vào tiểu chủng viện của lớp bác Tiến, bác Khánh, bác Ngô Đình Sĩ, bác Đắc, bác Trần Quang Lương, bác Duyệt... Tôi và bác Ninh hai người chia nhau hai phòng ngủ chú Nhỏ và chú Trung. Giờ thi thì xuống làm giám thị phòng thi, các giờ khác thì làm giám thị kỷ luật. Lúc ấy, chúng tôi thấy mình cũng oai ra phết, và tự nhiên hiểu được tâm trạng của thầy giám thị là như thế nào. Nhìn các ứng sinh ngơ ngác và hồi hộp, thấy được rõ ràng hình ảnh của chính mình sáu, bảy năm về trước. Chỉ mới thi sang đến ngày thứ hai thôi, đang giờ ngủ trưa mà đã có vài anh rủ nhau lén xuống tắm biển. Đến khi các "thầy" lên dội nước ngọt ở giếng thì hỏi ra mới biết là gốc Nha Trang. Các "thầy" tỉnh bơ nói: "Ở nhà không ngủ trưa bao giờ. Nên rủ nhau đi tắm". Như hồi còn ở nhà vậy.
Sau 75, tôi còn có duyên với các bác lớp này một lần nữa. Lúc ấy, các bác được tụ tập tại nhà dòng Bác Ái Vinh Sơn, Cha Đoàn Sĩ Thục làm bề trên. Tôi giúp các bác ấy môn Tri thức luận (Epistemologie) và đang chuẩn bị cho môn Hữu thể luận (La Connaissance de L'Être) thì phải ngưng.

17. Đức cha Nguyễn văn Nho
Nhân dịp những ngày giáp năm giỗ của Đức cha Nguyễn văn Nho, tôi không thể không viết vội vài hàng về ngài. Viết vội, bởi lẽ chẳng thể nào kể từng chi tiết những kỷ niệm của riêng tôi với ngài. Nghĩ và nhớ được tới đâu viết liền tới đó.
Kỷ niệm sâu sắc và gây nhiều ấn tượng nhất nơi tôi là những ngày cuối tháng tư, năm 1975. Theo dòng ngườì lưu lạc chạy vào Vũng Tàu, rồi vào Sài Gòn, tôi được tin Cha Nho đã trở về Việt Nam. Khoảng tám chín giờ tối, chúng tôi tới Trung tâm Công giáo. Gặp lại ngài sau vài năm xa cách trong bầu khí hoang mang lo lắng và buồn nản lúc bấy giờ, tôi thấy ngài vẫn vui vẻ. Gặp lại tôi, ngài vui vẻ khoe: "Vào đây, Khang. Tao may mắn mua được vé may bay về lại Việt Nam". Trong khi cả nước ai cũng giành giật nhau một chỗ để đi ra, ngài lại vui vẻ hớn hở vì được trở về. Duy nhất chỉ có ngài.
Mới ra trường Giáo Hoàng Học Viện, ngài về Sao Biển làm giám học và dạy chúng tôi môn Latinh. Vì chữ tôi viết to, ngài hay bắt tôi viết bài dịch từ cuốn Livre du Maitre lên bảng cho các bạn chép vào. Đôi bữa ngài không xuống lớp dạy. Lý do là vì năm ấy chủng viện đang thay đổi hành chánh để trở thành một Tư thục trung học đệ nhất cấp, mà các chứng chỉ có giá trị như những trường khác ngoài đời. Cha Nho đang bận rộn với thủ tục hành chánh cho việc ấy. Dạo ấy, với bằng cử nhân thần học tại Giáo Hoàng Học Viện, ngài đủ điều kiện để làm hiệu trưởng chủng viện Sao Biển. Những chứng chỉ và học bạ cuối năm của tôi những năm cinquième, quatrième và troisième đều do ngài ký và đóng dấu.
Dường như tôi chưa thấy ngài buồn phiền hay lo lắng gì cả. Lúc nào ngài cũng bình bình. Thỉnh thoảng còn vui vẻ pha trò. Có lẽ vì thế mà ngài rất dễ được mọi người mến và chuộng. Lẫn lộn trong những kỷ niệm về ngài, tôi nhớ nhất những năm 1978-1979, chiều chiều tôi hay đạp xe vào Chủng Viện, ngồi với ngài ở hàng hiên, học với ngài môn De Uno et Trinite. Sau khi chủng viện mất, từ năm 1980 cho đến năm 1992, mỗi thứ năm tôi lại đạp xe theo đường Đắc Lộc, đi ngang Cây Vông, qua cây Dầu Đôi, lên Hà Dừa ở một ngày với ngài, cùng với Trần Bá Ninh 63, Mai Hứa LB, Nguyễn Văn Tình LB, Trần Anh Thư LB, Minh Cời 66, Long LB, sống lại bầu khí chủng viện cho đỡ buồn. Thỉnh thoảng Hà Thanh Sơn LB cũng tụ về lại. Tại Hà Dừa, tôi đã có dịp gặp lại Phạm Xuân Thi 64 trước khi bác ấy đi xa.
Ngài còn được tính dễ ăn và dễ ngủ. Mấy con cá liệt nấu bát canh chua, thêm miếng cà pháo chấm mắm ruốc cho sáu bảy người, vị cựu sinh viên trường Gregoriana cũng ăn xong bữa mà còn khen ngon miệng nữa. Cơm chiều xong, trong khi Mai Hứa hay Trần Bá Ninh còn ham chơi videogame bắn xe tăng, chưa được mươi phút sau, quay lại thì ngài đã ngáy khò ở sofa, chưa kịp đọc Kinh Tối.
Khi nhìn lại đời ngài, chúng tôi quả thực thấy ngài hiền lành và khiêm nhường. Sao cũng được. Tôi phải thêm nét "bon papa" cho ngài nữa. Dường như chỉ có các Thầy, các Chú xin về, chứ ngài không đuổi ai về bao giờ, phải không các bạn? Ít ra thời tôi còn ở Sao Biển và sau 1979.
Khi được Nhà Nước giao cho ngôi trường tiểu học để làm đại chủng viện Sao Biển bây giờ, lập tức ngay hôm sau, mỗi ngày tôi đã phải xuống đó ngủ trưa để giữ nhà. Lúc ấy chỉ có hai dãy nhà trệt, mỗi dãy chừng năm phòng, cách nhau bằng một cái sân nhỏ. Phía sau và chung quanh còn là mảnh đất bằng phẳng. Nắng trưa gay gắt đổ lửa, nhìn ra ngoài chỉ thấy mấy con dông chạy ra chạy vào quanh gốc hoa chinh chiến. Tôi nằm một phòng đầu nhà, thao thức ngủ không được. Vậy mà vẫn nghe tiếng ngáy khò khò của Cha bề trên Nho nằm phòng giữa cách đó một căn. Người sao mà dễ tính.
Thỉnh thoảng ngài quăng cho tôi một số báo Observatore Romano, hiếm hoi nhận được qua bưu điện. Có khi đã trễ một hai tháng. Ngài bắt tôi dịch một vài bài trong đó. Có lần ngài đưa nguyên cuốn Instructio de Absolutione. Dạo ấy đang thời canh tân nghi thức bí tích Giải tội và Sám hối. Dịch xong, cả hai Cha con ngôì lại duyệt và sửa từng câu từng chữ. Lúc ấy tôi đã nghĩ ngài cần có một thư ký giỏi để làm việc hữu hiệu.
Khi tôi lên chào ngài để đi xa, ngài cũng bùi ngùi nhưng chỉ nói, bắt chước phim bộ: "Bảo trọng, bảo trọng!" Cha con chia tay nhau chỉ có thế.
Bây giờ Cha con đã chia tay nhau một năm rồi, tôi cũng chỉ biết nhớ và nhắc lại câu nhắn nhủ ấy, "nhắn" cho ngài mà "nhủ" cho tôi: "Bảo trọng! Take care!" Xin ngài take care chúng ta.

Nguyễn Đức Khang 63